Giải mật

Mạch Gia là tác giả nổi tiếng về thể loại truyện mật mã và giải mật ở Trung Quốc. Ông có tài trong việc xây dựng những nhân vật trở thành huyền thoại trong lĩnh vực này, những con người ấy rất thực, nhưng cũng phi thường đến nỗi tưởng như chỉ có trong truyền thuyết, tưởng tượng của con người. Tiểu thuyết Giải Mật đã xây dựng lên một nhân vật Kim Trân đầy màu sắc huyền bí như vậy.

Để gây được cảm giác chân thực, Mạch Gia trộn vào nhau cả hiện thực và tưởng tượng, cả hai hòa vào nhau như một khối không thể tách rời.

Nói đến Kim Trân phải nói đến gia tộc họ Dung. Gia tộc này đời đời làm muối mà phát triển thành một gia tộc lớn cho tới đời Dung Tự Lai được bà nội cho sang châu Âu du học thuật giải mộng, đây là bước ngoặt lớn tới gia tộc họ Dung về sau này. Nhưng khi sang tới nơi thì nhận được tin bà nội đã mất, Dung Tự Lai nghĩ không cần thiết học thuật giải mông nữa nên định đi nơi khác. Trong lúc suy nghĩ và chờ đợi thì anh kết giao và học với những người bạn khác về hình học, toán học, phương trình, âm nhạc. Loáng một cái đã hết 7 năm, năm 1880 Dung Tự Lai đổi tên là Jonh Lily về nước lập trường dạy toán Lily, tiền thân của trường đại học N. Điều đặc biệt ở trường là tuyển cả nữ học sinh, tất nhiên những người học đầu tiên là thuộc gia tộc họ Dung.

Chính trong ngôi trường này đã phát hiện ra tài năng của Dung Ấu Anh, sau này được mọi người gọi là Dung bàn tính Lily. Đây cũng là nhân vật huyền thoại, đã từng nhận học vị tiến sĩ toán học của đại học Cambridge vì thiết kế được cây cầu toán học Newton với 388 cái đinh. Sau đó đã từng sang Mỹ nghiên cứu làm máy bay với anh em nhà Wright, được ghi danh là một trong những người tạo ra chiếc máy bay đầu tiên.

Dung bàn tính chết trên bàn đẻ, cô đẻ ra được một đứa trẻ đầu to mà mọi người gọi luôn là Quỷ đầu to. Quỷ đầu to là một đứa ăn chơi lêu lổng trở thành kẻ phá gia chi tử, cuối cùng Quỷ đầu to chết khi còn trẻ. Sauk hi chết có một người phụ nữ vác bụng đến nhà họ Dung nói đó là con của Quỷ đầu to. Lúc này nhà họ Dung đã suy yếu, chỉ còn cái vể phồn vinh giả tạo bên ngoài mà thôi. Jonh Lily là chủ gia đình quyết định đưa cô gái cùng đứa con trong bụng về thị trấn Đồng cho người chị dâu nuôi.

Đứa trẻ trong bụng này chính là Kim Trân, lúc đẻ ra đầu cũng to, cũng giống lúc sinh Quỷ đầu to xong thì người mẹ cũng buông tay khỏi thế gian. Điều này khiến mọi người kinh hãi. Lúc đầu mọi người gọi nó là Ma Chết. Sau này khi đi qua nhà vợ chồng lão bộc nhận nuôi Ma Chết, họ xin ông đặt cho nó cái tên khác, Ông Tây suy nghĩ và đặt tên cho nó là Sâu đầu to, ông Tây này ngày trước hay giải mộng cho bà nội của Jonh Lily. Ông Tây này chính là người thông hiểu gia phả nhà họ Dung nhất, sau này khi Sâu Đầu To đến sống với ông, ông đã truyền lại tất cả những điều này cho cậu. Sau khi cha mẹ nuôi đứa bé chết, ông Tây đưa nó về vườn lê sống cùng, ông hết sức yêu mến và dạy dỗ đứa bé này. Cho tới khi biết mình không thể sống thêm được nữa, ông Tây viết thư gửi cho ông Lily con (Dung Tiểu Lai) là con trai của Jonh Lily nói về hoàn cảnh và trí tuệ của Sâu Đầu To. Ông Tây muốn ông Lily con đem Sâu Đâu To đi và chăm sóc dạy dỗ nó.

Năm 1944 thành phố C nơi trường đại học N tọa lạc bị quân Nhật chiếm đóng, chúng muốn lấy lòng ông Dung Tiểu Lai nên quyết định thăng chức cho ông từ hiệu phó lên hiệu trưởng. Nhưng Dung Tiểu Lai thà mất chức chứ không hợp tác cùng Nhật nên xe ngay tờ quyết định trước mặt mọi người. Sau đó ông về thị trấn Đồng và ghé thăm vườn lê, gặp cậu bé Sâu Đầu To. Cậu bé đã làm ông kinh ngạc về sự hiểu biết đối với gia phả họ Dung, cũng làm ông thán phục trước tài tính toán tuy chưa phù hợp của nó. Kết quả là ông quyết định đem nó lên thành phố.

Lúc này đứa con gái nhỏ của Dung Tiểu Lai vừa mất, có thêm Sâu Đầu To khiến nhà bớt trống trải, vợ của Dung Tiểu Lai lại rất yêu quý Sâu Đầu To. Họ quyết định tìm một cái tên mới cho nó, gọi là Kim Trân, có tên nhưng không có họ.

Dung Tiểu Lai gửi Kim Trân cho Kim Trân vào học trường trung học trực thuộc đại học N. Kim Trân luôn là người nổi bật nhất lớp, có thể nói khả năng tiếp thu của cậu không có ai sánh kịp, có thể lên thẳng đại học luôn nhưng Dung Tiểu Lai muốn Kim Trân có bạn cùng tuổi để xây dựng quan hệ xã hội cho cậu. Nhưng không để Kim Trân học vượt cấp thì thầy giáo cũng không có gì đẻ dạy cậu ta, thậm chí bị cậu ta hỏi những câu không thể trả lời được. Cuối cùng ông Dung Tiểu Lai cũng cho Kim Trân học vượt cấp.

Sau đấy Kim Trân vào khoa toán của đại học N, ở đây cậu được học với một giáo sư nổi tiếng về toán học, ông Hinsh. Ông đã từng đạt giải Field về toán học, một giải còn khó đạt hơn cả giải Nobel. Theo thông lệ, ông Hinsh ra bài tập thứ nhất cho tất cả lớp, nếu ai giải được thì coi như học kì đó không cần đến lớp, nếu một người giải được ba đề toán của ông thì sẽ được ra riêng một đề khác coi như luận văn tốt nghiệp. Nhưng những bài toán này rất khó, hầu như các sinh viên khác không thể giải được. Nhưng Kim Trân liền một lúc giải cả ba đề làm giáo su Hinsh không thể không thán phục cậu bé này.

Từ đó Kim Trân thường xuyên qua lại nhà giáo sư Hinsh, hai người cùng kết hợp với nhau sáng tạo ra một loại cờ gọi là cờ toán học vào năm 1949, sau này bị đổi tên thành cờ Hinsh.

Sự qua lại gần gũi giữa họ khiến nhiều người nghi ngờ giáo sư Hinsh lợi dụng Kim Trân cho công trình nghiên cứu về bộ não người của mình, nhưng Kim Trân hoàn toàn phủ nhận điều đó.

Khi giáo sư Hinsh trở về nước đã để lại số sách nghiên cứu của mình cho Kim Trân và ông Dung Tiểu Lai, hi vọng Kim Trân có thể tiếp tục nghiên cứu về bộ óc con người. Sau này Kim Trân định vào học tại đại học Stamford, nhưng không ngờ bệnh viêm thận đã giữ cậu lại làm cuộc đời cậu chuyển biến theo một hướng hoàn toàn khác.

Căn bệnh của Kim Trân khiến cho tình cảm của cậu với vợ giáo sư Dung Tiểu Lai càng gắn bó thân thiết, bà chăm sóc Kim Trân như con đẻ của mình, cẩn thận với từng hạt muối cho vào thức ăn của cậu. Kim Trân cũng hết sức cảm kích tấm lòng đó, cậu viết những chữ bằng máu của mình thể hiện tình yêu đối với bà như với một người mẹ tuyệt vời nhất trên đời. Điều này được Dung Nhân Dịch hay còn gọi là thầy Dung phát hiện, Kim Trân coi cô như người chị gái của mình.

Sau khi tốt nghiệp, Kim Trân được trưởng phòng Trịnh của phòng 701 đến đón đi làm công việc giải mật. Kim Trân và gia đình ông Dung Tiểu Lai không có lựa chọn nào khác đành phải đi theo.

Khi đoán biết Kim Trân tham gia việc giải mật, giáo sư Hinsh nhiều lần viết thư khuyên và phản đối việc này, nhưng những lá thư đó không bao giờ tới tay Kim Trân. Tổ chức 701 đã lợi dụng những lá thư này, giả danh Kim Trân viết thư lại để tìm hiểu cách giải mật mã Tử Mật từ giáo sư Hinsh. Ông Hinsh cũng khôn khéo dẫn họ vào mê cung để không thể nào giải mật được. Giáo sư Hinsh chính là người tạo ra mật mã này, nhưng phía Trung Quốc không hề biết, lúc đầu ông làm nó vì tình yêu và trách nhiệm với dân tộc do thái của mình, nhưng họ không sử dụng được nên đã bán cho nước X. Vì vậy tất nhiên ông không muốn ai có thể phá giải được nó kể cả Kim Trân. Giáo Sư Hinsh còn tạo ra một bộ mật mã khác mà sau đó làm Kim Trân không thể giải được mà hóa điên, có thể nói chính vì hiểu sâu sắc Kim Trân mà ông đã tạo ra bộ mật mã này.

Khi mới tới cơ quan bí mật 701 Kim Trân tỏ ra là người không quan tâm đến mọi chuyện, chỉ thích chơi cờ với một người điên cờ ở đây. Người điên này cũng rất thích chơi với Kim Trân. Nhưng chính vì cứ thích chơi với người điên cờ nên mọi người trong cơ quan tỏ ra coi thường Kim Trân, coi thường Kim Trân thì xem như trưởng phòng Trịnh cũng mất mặt vì đi kiếm một người không ra gì về cơ quan.

Nhưng tất cả mọi người đều sai lầm. Lúc này cơ quan đang đau đầu với mật mã Tử Mật, chính vì mật mà này mà người điên cờ từ một nhân viên giải mật tài năng bỗng phát điên. Nhưng Kim Trân chỉ mất một năm để giải mật mã này. Vì điều này mà Kim Trân được tặng danh hiệu anh hùng cách mạng. Từ một người không có thân phận, Kim Trân lần lượt thăng tiến lên chức trưởng phòng 701 khi ông Trịnh dần được thăng lên làm cục trưởng.

Chính vì vị thế của mình nên Kim Trân cũng đã cứu được gia đình ông Dung Tiểu Lai trong cuộc cách mạng văn hóa năm 1966, từ đó gia đình Dung Tiểu Lai được bình yên không một ai dám động đến.

Kim Trân chỉ về nhà một lần duy nhất đó, cậu sống khép kín và im lặng với tất cả mọi người trong cơ quan.

Sau Kim Trân lấy vợ là người cùng cơ quan, cuộc sống của hai người lặng lẽ đến mức không thể tưởng được. Nếu Kim Trân không lấy vợ lúc đó có lẽ sau này cũng khó có cơ hội tốt hơn. Ngay sau khi Kim Trân lấy vợ thì mật mã Hắc Mật xuất hiện. Độ khó của nó còn gấp nhiều lần Tử Mật, hầu như không giải được. Kim Trân đắm chìm vào nghiên cứu cách giải mà mấy năm liền vẫn không có tiến triển gì.

Mấy năm sau một hội nghị lớn về nghiên cứu mật mã Hắc Mật được tổ chức, Kim Trân đi tàu tới tham gia, cậu ta được bảo vệ như một nhân vật trọng yếu, chính vì vậy mà không thể đi máy bay dù nó nhanh hơn mà phải đi tàu. Kim Trân ở phòng riêng, có cận vệ, có bảo vệ trên tàu và cả lực lượng quân đội bố trí dọc đường đi, cẩn mật là vậy nhưng trong lòng Kim Trân vẫn hết sức lo lắng. Có thể những lo lắng ấy phát sinh từ sự yếu đuối trong bản thân anh, chỉ khi tới nơi Kim Trân mới thở phào nhẹ nhõm.

Nhưng hội nghị này về cơ bản không giải quyết được vấn đề gì cả, Kim Trân cảm thấy bực bội nhưng rồi cậu nghĩ đến chính bản thân mình cũng chưa giải được thì hi vọng gì ở những người bình thường khác. Lúc ra về trong lòng Kim Trân vui vẻ và bớt đi nhiều lo lắng.

Ở đây xuất hiện việc khá phi lí khi tác giả miêu tả Kim Trân khó khăn lắm mới mua được vé giường nằm, lại ở cùng phòng với hai người khác. Chính điều này dẫn tới việc Kim Trân mất cuốn sổ tay, gián tiếp làm anh anh ta trở thành một người điên. Một người quan trọng lúc đi được bảo vệ cẩn mật mà lúc về lại không có gì như thế có phần không hợp lí lắm.

Sau khi mất cuốn sổ tay quan trọng, đoàn tàu được phong tỏa, hai thành phố A và B cũng bị phong tỏa và kiểm soát bởi cả công an, quân đội và nhiều đoàn thể khác để tìm cuốn sổ tay. Kim Trân cũng trực tiếp tới thành phố B để đi tìm dưới sự theo sát của người bảo vệ có biệt danh Vasili.

Những ngày sau Kim Trân lang thang khắp thành phố B để tìm sổ tay, anh day dứt và dằn vặt bản thân mình vì sự việc này. Rồi đột nhiên trong một đêm Kim Trân biến mất khiến cho sự việc trở nên phức tạp. Sổ tay chưa tìm được giờ người lại biến mất. Lúc đầu còn điều tra bí mật, đến nước này phải công khai trên báo chí rằng một nhà khoa học mất cuốn sổ tay có liên quan đến một phát minh có tầm cỡ quốc gia. Nhờ vậy cuốn sổ tay nhanh chóng được tìm thấy, sau đó nhật báo thành phố B cũng đăng tin tìm người mất tích và Kim Trân được phát hiện ở trước cổng nhà máy giấy với bộ dạng của một người điên. Kim Trân không bao giờ hồi phục lại được nữa, nửa đời sau đành phải sống ở trung tâm điều trị Linh Sơn của cơ quan 701.

Cục trưởng Trịnh luôn cho rằng mật mã là cỗ máy thiêu rụi nhiều tài năng nhất trên thế giới, trong giới mật mã cũng có quy luật bất ngầm rằng mỗi người chỉ có thể giải được một bộ mật mã. Kim Trân vì sự thiên tài của mình mà giải từ Tử Mật tới Hắc Mật mà phát điên. Hắc Mật chính là giáo sư Hinsh tạo ra để làm Kim Trân phải phát điên nên cậu sẽ không thể nào giải mã nổi.

Hắc Mật cuối cùng được giải mã bởi một người bình thường là phó phòng Nghiêm Thực. Thực ra ai cũng biết nhờ có ghi chép của Kim Trân đưa đường dẫn lối là Nghiêm Thực mới giải được mật mã này. Sau này Nghiêm Thực cũng thừa nhận Kim Trân đã bước được 99 bước, chỉ còn bước cuối cùng không hiểu vì sao không bước tiếp được dẫn đến phát điên như sau này. Nghiêm Thực đã dựa vào đó hoàn thành nốt bước thứ 100 và phá giải được Hắc Mật một cách dễ dàng.

Phần cuối của cuốn sách này chính là một phần ghi chép của Kim Trân, những ghi chép lộn xộn trong lúc nằm ở bệnh viện điều trị bệnh dạ dày, ở phần này có thể thấy diễn biến tình cảm của Kim Trân dẫn tới việc anh cưới vợ trước khi Hắc Mật ra đời.

Kết thúc câu chuyện người đọc sẽ tự hỏi câu chuyện này là thật hay là giả, hay vừa thật vừa giả đan xen vào nhau thành một chỉnh thể thống nhất. Có thể là cả hai. Mật mã vốn là những điều bí mật không thể nói trực tiếp mà chỉ có thể thông qua cách nói gián tiếp, nên dù có tài tình đến đâu thì tác giả cũng không thể nói cho rõ ràng được, thế là dùng cách so sánh và ẩn dụ, đôi khi hiểu được nhưng phần nhiều là khó hiểu, đôi chỗ còn cảm thấy vô lí hoặc có lúc lại khoa trương quá mức.

Trần Huệ Lương

 

Tác giả: Mạch Gia giai mat (2)
Người dịch: Sơn Lê 
Nhà xuất bản: Công an nhân dân
Ngày phát hành: 03/2010
Số trang: 352
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s